Hiển thị các bài đăng có nhãn tai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tai. Hiển thị tất cả bài đăng

VIÊM TAI GIỮA MẠN

tháng 10 28, 2019

VIÊM TAI GIỮA MẠN LÀ GÌ?

👂🏻 Viêm tai giữa (VTG) mạn là tình trạng nhiễm trùng ở tai giữa kéo dài trên ba tháng với nhiều dạng như: VTG lõm nhĩ, VTG xơ nhĩ, VTG thanh dịch, VTG mạn mủ… thường gặp nhất là VTG mạn thủng nhĩ.
Đây là bệnh lý có thể gặp ở mọi lứa tuổi, rất phổ biến tại Việt Nam. Người bệnh bị một hoặc cả hai tai và có thể kéo dài qua nhiều năm với các triệu chứng như: ù tai, chảy mủ tai dai dẳng, giảm thính lực... Nếu bệnh kéo dài sẽ gây di chứng hoặc biến chứng ở não, có thể dẫn đến tử vong.



NGUYÊN NHÂN GÂY RA VIÊM TAI GIỮA MẠN

💥 Có nhiều nguyên nhân gây ra VTG mạn như:

🔴 Viêm tai giữa cấp

Là nguyên nhân thường gặp nhất, xảy ra nhiều ở trẻ em. Sau nhiễm trùng hô hấp trên (cảm cúm, viêm mũi họng…), trẻ bị đau nhức trong tai, sốt, rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, nôn ói... Nếu được chẩn đoán và điều trị đúng, trẻ sẽ khỏi hoàn toàn. Nếu không điều trị hay điều trị sai, vi khuẩn sẽ theo ống thông tai - họng (vòi nhĩ) vào trong tai giữa, gây ứ mủ tai giữa. Viêm nhiễm sẽ phá thủng màng nhĩ, mủ chảy ra ống tai ngoài, có thể thấy khi nhìn vào tai trẻ.
Trong giai đoạn này, dù màng nhĩ đã thủng nhưng nếu điều trị tích cực, có nhiều khả năng màng nhĩ sẽ lành, nếu không được điều trị đúng hoặc lỗ thủng màng nhĩ quá lớn, không thể lành, bệnh sẽ chuyển sang VTG mạn thủng nhĩ.

🔴 Viêm tai giữa cấp hoại tử

Tương tự như VTG cấp nhưng do độc lực của vi khuẩn quá mạnh hoặc tình trạng miễn dịch của cơ thể bị suy yếu nên bệnh diễn tiến nhanh, màng nhĩ thủng rộng, không có khả năng tự lành và dẫn đến VTG mạn.

🔴 Chấn thương

Nguyên nhân chủ yếu thường do dụng cụ móc ráy tai, dụng cụ bị đẩy sâu vào bên trong, xuyên thủng, gây ra thủng nhĩ. Sau chấn thương, nếu lỗ thủng nhỏ, màng nhĩ có thể tự lành; nếu lỗ thủng lớn, màng nhĩ khó có khả năng tự lành, dẫn đến VTG mạn.

CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA VIÊM TAI GIỮA MẠN


Khi bị VTG mạn, người bệnh có thể có những triệu chứng như:

🔹 Nghe kém

Nghe kém có đặc điểm ngày càng tăng. Tình trạng này sẽ nặng thêm khi kết hợp các yếu tố sau: lỗ thủng rộng, thời gian bệnh kéo dài, chảy mủ tai tái phát nhiều lần, hư hại chuỗi xương truyền âm thanh trong tai giữa…
Nghe kém là dấu hiệu kín đáo, nếu chỉ VTG mạn thủng nhĩ một bên thường sẽ khó phát hiện do người bệnh còn nghe tốt ở tai đối bên. Nghe kém chỉ được phát hiện tình cờ khi nghe điện thoại hay nhờ người thân phát hiện. Hoặc chỉ phát hiện khi đi khám bệnh, đo sức nghe bằng máy.

🔹 Chảy dịch tai

Là tình trạng dịch chảy ra ở ống tai. Dịch có đặc điểm sau:
+ Màu sắc: có thể trong, trắng đục, vàng, xanh, đôi khi có ít máu...
+ Sự liên tục: có thể chảy liên tục hay từng đợt.
+ Mùi: có thể không mùi hay có mùi hôi.
+ Số lượng: có thể nhiều hoặc ra ít.
+ Độ nhầy: loãng như nước hoặc nhầy, đôi khi keo đặc.

🌿 Cần phân biệt giữa ráy tai ướt và dấu hiệu chảy dịch của tai. Khi ngoáy tai bằng bông gòn, người có ráy tai ướt thường thấy có dịch ướt đầu bông, màu vàng vàng, có mùi hơi hôi, thỉnh thoảng chảy ra ngoài tai. Khi khám sẽ thấy màng nhĩ nguyên vẹn, sức nghe bình thường. Một số người bệnh bị VTG mạn thủng nhĩ được chăm sóc tốt hoặc sức đề kháng mạnh nên không chảy dịch trong nhiều năm, khiến người bệnh quên tình trạng bệnh của mình. Vì một lý do khác, tình cờ đi khám tai - mũi - họng và được phát hiện VTG mạn thủng nhĩ.

💦 Các triệu chứng khác

Ù tai, chóng mặt; có thể có một hoặc cả hai dấu hiệu này, do VTG mạn ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh hay hệ thống giữ thăng bằng của tai. Ở giai đoạn này, tỷ lệ khỏi hẳn tương đối thấp dù điều trị tích cực, kể cả can thiệp phẫu thuật.
Khi có dấu hiệu như trên, người bệnh nên đến chuyên khoa Tai Mũi Họng. Bằng các phương tiện hỗ trợ như: đèn soi tai, máy nội soi, máy đo sức nghe... sẽ giúp chẩn đoán xác định VTG mạn thủng nhĩ. Ngoài ra, có thể sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như CT-scan hay MRI xương thái dương khi nghi ngờ có những tổn thương nặng trong tai như gián đoạn chuỗi xương truyền âm thanh, hệ thống giữ thăng bằng, dây thần kinh..

BIẾN CHỨNG

💢 VTG chảy mủ mạn tính có cholesteatoma

Là loại VTG nhiễm khuẩn gây tổn thương hệ thống xương trong hòm nhĩ, phá hủy mê nhĩ, có thể gây liệt mặt và các biến chứng sọ não rất nặng như: viêm tắc xoang tĩnh mạch bên, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, áp-xe tiểu não...

💢 Viêm tai xương chũm mạn tính hồi viêm

Là đợt cấp của viêm tai xương chũm mạn tính. Người bệnh có tiền sử viêm tai xương chũm đã điều trị nhiều lần, tai đã khô và đỡ ù nhưng đột ngột đau tai, ù tai tăng lên, nghe kém, có thể kèm theo chóng mặt, mủ tai chảy nhiều kèm theo sốt cao, ấn rất đau ở vùng xương chũm. Trong đợt hồi viêm rất dễ xảy ra các biến chứng như: liệt mặt, viêm mê nhĩ, biến chứng sọ não – áp xe ngoài màng cứng…

PHÒNG BỆNH

 Cần tích cực và tuân thủ điều trị các bệnh như: viêm mũi họng, viêm VA... - Khi bị VTG cấp, phải được điều trị và theo dõi chu đáo.
 Cần chẩn đoán sớm nhằm điều trị, theo dõi, phát hiện và xử trí kịp thời các biến chứng của VTG.
 Tuyên truyền phòng bệnh VTG trong cộng đồng.
 Thường xuyên giữ vệ sinh tai đúng cách, tránh bụi, nước bẩn vào tai và vệ sinh mũi họng.

⚠️ Tóm lại, VTG mạn thủng nhĩ là bệnh lý khá phổ biến hiện nay. Người bệnh nên đi khám đúng chuyên khoa Tai Mũi Họng để được điều trị, có thể cần phẫu thuật thích hợp giúp bảo tồn, cải thiện thính lực cũng như tránh các biến chứng nguy hiểm. Cần lưu ý một số thuốc nhỏ tai có thể gây điếc không hồi phục nếu dùng khi màng nhĩ thủng. Ngay cả thói quen sử dụng dung dịch oxy già làm sạch mủ tai cũng cần phải có ý kiến bác sĩ về liều lượng và cách dùng. Vì vậy, người bệnh không tự ý dùng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

ThS BS. Lê Minh Tâm - Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM.

KIỂM SOÁT TIẾNG ỒN - BẢO VỆ THÍNH LỰC CHO TRẺ

tháng 9 12, 2019

 TRÁNH TIẾNG ỒN Ở TRẺ EM



 Tiếng ồn là rung động cơ học đặc trưng bởi tần số (Hz), cường độ (dB), nhịp độ và thời gian kéo dài.
 Tiếng ồn là âm thanh mà ta không mong muốn hoặc vô nghĩa. Tiếng ồn là một yếu tố ô nhiễm.

 Ở KHOA SƠ SINH, CHÚNG TÔI LÀM GÌ ĐỂ KIỂM SOÁT TIẾNG ỒN?

Tiếng ồn ở khoa sơ sinh là một yếu tố tăng tỉ lệ tử vong và tàn tật. Ở các khoa sơ sinh, nơi mà toàn các bé non nớt và ốm mệt nhiều, chúng tôi luôn làm mọi cách để âm thanh là thủ thỉ êm dịu nhất, vì đó là nhóm trẻ nguy cơ cao nhất. Chúng tôi nói năng nhỏ nhẹ, bác nào cũng nói nhẹ nhàng, chân đi không quẹt quẹt, cửa lồng ấp đóng nhẹ nhàng, ra vào đỡ cửa khi sập, máy báo động cũng phải cài chuẩn để chỉ báo động khi cần thiết. Chúng tôi có cả máy báo tiếng ồn. Nếu ai đó nói to quá, đèn chớp sẽ loé loé (không có tiếng báo động). Hay không? Hehe.

 MẤT THÍNH LỰC DO TIẾNG ỒN

Cơ chế là tổn thương các cấu trúc rung động dẫn âm và các đầu mút thần kinh ở tai. Gọi là ĐIẾC THẦN KINH.
🙆🏻‍♂️ Hay gặp nhất là do môi trường lao động. Ở trẻ em, nếu không phòng trừ và có ý thức bảo vệ tai con, thì rõ ràng là có nguy cơ mất thính lực ngay từ thời thơ ấu. Mà nghe không tốt, thì sao thành nhà văn ca sĩ?

NGUỒN TIẾNG ỒN VỚI TRẺ EM

Âm thanh thường ồn ào quá mức cho phép ở những nơi như:
- Khu dân cư đông đúc
- Trường học, bệnh viện
- Thang máy, đài phun nước
- Đồ chơi phát ra tiếng kêu
- Giao thông giờ cao điểm
- Nhà xưởng
- Xây dựng, đào đường lấp hố

⚠️ NHÓM TRẺ NÀO DỄ TỔN THƯƠNG?


- Thai nhi
- Trẻ sơ sinh
- Trẻ đẻ non, nhẹ cân
- Trẻ có bệnh lý tăng động, khó đọc
- Trẻ đang dùng thuốc độc cho tai
- Trẻ đang có bệnh lý tai - thính lực
Ngay từ thế kỉ XX, người ta đã ghi nhận nếu bà mẹ mang thai phải sống, làm việc trong môi trường ồn ào liên tục, thì ngay trong 3 tháng đầu thai kì, thai nhi đã có nguy cơ dị tật, mất thính lực bẩm sinh, ảnh hưởng tới tăng cân trong bụng mẹ.

😿 TÁC ĐỘNG CỦA TIẾNG ỒN

- Tổn thương tai trực tiếp: gây mất thính lực, giảm ngưỡng nghe.
- Ảnh hưởng gián tiếp: tâm lý, nhận thức và khả năng học tập, đọc hiểu, trí nhớ dài hạn, tập trung chú ý.
Rất nhiều âm thanh cường độ cao có thể đánh sập các cơ chế bảo vệ thích ức, gây tổn thương vĩnh viễn đến cấu trúc của tai và hệ thống truyền âm của trẻ. Những tiếng ồn kéo dài lặp đi lặp lại cũng gây các tổn thương vĩnh viễn.

🧸 VẬY TRẺ EM CẦN GÌ?

Ngưỡng nghe an toàn tuỳ thuộc vào loại tiếng ồn và thời gian tiếp xúc với tiếng ồn đó. Trẻ em khác người lớn là không biết kêu tiếng này to quá, ồn ào khó chịu quá, trẻ có thể chỉ khóc và quấy thôi.
- Trẻ sơ sinh mới đẻ: dưới 45 dB (ngang tiếng nói chuyện nhỏ). Quá ngưỡng này là có - hại.
- Trẻ lớn hơn: các tiếng ồn dưới 70 - 80 dB được coi là an toàn. Mức 80 dB là ngang mức tiếng động leng keng băm chặt ở một quán phở sáng ở Hà Nội hoặc tiếng xe cộ trên đường Thành Thái lúc 3 giờ chiều. Mức 60 dB (rất an toàn) là tương đương mức nói chuyện riêng cự li gần.
- Tiếp xúc với âm thanh trên 100 dB (tiếng tàu hoả chạy) không có bảo hộ là có hại, với thời gian tiếp xúc dù ngắn hay dài.
⚠️ CẦN TRÁNH mọi âm thanh cao hơn ngưỡng đó. Nếu không thể tránh thì dùng bịt tai, nút tai, tai nghe khử ồn cho bé khi đến những nơi nguy cơ có tiếng ồn (đám đông, tàu xe, sân bay, sân khấu, vũ trường, sự kiện âm nhạc) cũng như GIẢM TỐI ĐA thời gian tiếp xúc, tần suất phải nghe tiếng ồn - dù chỉ ở ngưỡng hơi cao.

🐤 NGUY CƠ CHÓI TAI TỪ ĐỒ CHƠI

😱 Nhiều món đồ chơi có tiếng rất to, ví dụ như tiếng mấy con chíp chíp vịt bầu, súng đồ chơi phát tiếng bắn, xe đồ chơi có tiếng còi cảnh sát, búp bê có tiếng, còi, xúc xắc, hộp nhạc. Âm thanh có thể lên tới 120 - 200 dB. Nhất là khi con có thể dí sát tai bóp nghe thử. Hoặc ai đó vui tính muốn làm con cháu giật mình nên bóp ...trêu đùa. Đúng là chơi dại quá mà!
📯 Giải pháp: Nghe thử trước khi mua. Nếu mua xong mới biết thì tháo pin, đổ keo dính chặt hoặc dán băng dính dày lên lỗ loa. Nếu vẫn to: vứt bỏ.
BS. ĐỖ TIẾN SƠN
Chăm con chuẩn Mỹ

VỀ CHĂM SÓC TAI Ở TRẺ NHỎ

tháng 8 13, 2019

🤓 NGỨA TAI KHÁC ĐAU TAI

Ngồi phòng mạch, vẫn thường có bố mẹ bế con đến khám vì lí do thấy con kéo tai, vò tai, ngoáy ngoáy tỏ vẻ ngứa ngáy lắm, và sợ là viêm tai, nhờ bác sĩ kiểm tra hộ.
Cẩn thận là đúng thôi, nhưng cần phân biệt được NGỨA TAI và ĐAU TAI. Đau tai thì khả năng cao là viêm tai rồi, còn ngứa tai thì chưa chắc.
👋 Phân biệt thế nào: đơn giản, trẻ không nhăn mặt, khóc khi bố mẹ thử kéo nhẹ dái tai, thì là ngứa tai.
Trẻ biết nói rồi thì trẻ kêu cho mẹ luôn, khỏi thử.

👂 CÁC NGUYÊN NHÂN LÀM TRẺ KÉO TAI, VÒ TAI

- Khám phá: Ở trẻ bé, trẻ bắt đầu khám phá chính cơ thể mình. Vì thế, kéo tai, giựt tai thường gặp ở trẻ trên 4 tháng tuổi (bắt đầu táy máy) và dưới 12 tháng tuổi (vì sau tuổi đó có nhiều trò khác chơi vui hơn).
- Ráy tai: Ở trẻ lớn hơn, đây là nguyên nhân chính. Một tí ráy tai làm cho bé ngứa ngáy khó chịu. Ráy tai có thể dồn lại nén thành 1 cục (thường do bố mẹ dùng bông ngoáy tai đẩy sâu vào trong ống tai). Với trẻ dưới 10 tuổi, bông ngoáy tai thường TO ngang (hoặc hơn) ống tai, nên sẽ đẩy tịt ráy tai vào sâu hơn.
- Xà phòng: Sữa tắm, dầu gội dư lại sau tắm sẽ gây ngứa, kích ứng ở ống tai.
- Viêm nhiễm vùng tai: Trẻ có viêm tai sẽ kèm theo các dấu hiệu của nhiễm trùng: mệt mỏi, đau tai và khóc vô cớ.

👀 Vì thế, vò tai, giựt tai thường gặp ở trẻ bé (dưới 2 - 3 tuổi). Chỉ đơn giản là vò tai giựt tai mà KHÔNG KÈM THEO các triệu chứng khác như khóc, sốt thì KHÔNG PHẢI LO. Không đau, không sốt thì HIẾM KHI VIÊM TAI LẮM!.

🤓 VẬY KHI NÀO ĐI KHÁM

👨‍⚕️ ĐI KHÁM BÁC SĨ NHI / TAI MŨI HỌNG NẾU:
- Sốt trên 40 độ C
- Dưới 12 tuần tuổi, kèm sốt. Nhóm tuổi này chú ý không nên tự dùng hạ sốt, đi khám trước.
- Nhìn con mệt mỏi, lừ đừ.
- Bố mẹ cảm thấy con cần phải đi khám (linh cảm, chúng tớ luôn đề cao linh cảm này của bố mẹ).
🏃‍♂️ ĐI KHÁM NGAY TRONG VÒNG 24H NẾU:
- Con đau nhiều (khóc ngằn ngặt ở trẻ chưa biết nói).
- Đang ngủ, lại dậy quấy khóc vì đau.
- Kèm theo sốt hoặc chảy mũi, ho...
- Chảy dịch từ ống tai (dịch vàng hoặc mủ)
- Nổi hạch cổ, góc hàm
- Trẻ chỉ ngoáy 1 bên tai, cố ngoáy sâu vào ống tai
- Bố mẹ cảm thấy con cần phải đi khám
🚶‍♂️ ĐI KHÁM THONG THẢ NẾU:
- Vò tai, giựt tai quá 3 ngày liền
- Ngứa ngáy tai trên 7 ngày
- Mẹ còn lăn tăn
👨‍👨‍👧‍👧 CHƯA CẦN ĐI KHÁM, THEO DÕI Ở NHÀ NẾU:
- Chỉ là nghịch tai và giựt tai cho vui
- Ngứa tai đơn thuần
🧐 CHÚ Ý KHI CHĂM SÓC
👋 MẤY ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ KÉO TAI GIỰT TAI
- Nhiều đứa giựt tai mình (không phải tai mẹ) là đang tự khám phá và dùng đồ chơi sẵn có
- Một số đứa thì vì ngứa ống tai (chưa chắc đã là do viêm).
- Cục ráy tai là nguyên nhân hay gặp (đa số do bố mẹ ngoáy tai hộ)
- Con có thể kéo tai giựt tai cùng lúc khi bắt đầu có chảy mũi, khụt khịt, ho nhẹ (kiểu cúm) do biến đổi dịch tai giữa. Hiếm hoi mới gây viêm tai giữa. Nếu tiến triển thành viêm tai, sẽ có sốt và đau.
- Chỉ kéo giựt tai thôi thì không phải là dấu hiệu của viêm tai.
👋 NẾU CON THÍCH NGHỊCH TAI
- Kệ nó
- Càng để ý càng nghịch dữ
👋 KHÔNG DÙNG BÔNG NGOÁY TAI
- Bông ngoáy tai sẽ đẩy ráy tai thành 1 cục, bít ống tai. Ráy tai có nhiệm vụ bảo vệ niêm mạc ống tai, ráy tai không phải tội đồ. Ráy tai có cơ chế tự đào thải, tự chảy hoặc rơi ra ngoài.
- Việc dùng bông ngoáy tai có thể làm ráy tai đóng cục (tăm bông to, đẩy ráy sâu vào trong), lau chùi sạch quá cũng làm cho tổn thương niêm mạc ống tai và rối loạn quá trình tự làm sạch của ống tai.
- Không được dùng bông ngoáy tai cho trẻ dưới 10 tuổi.
- Các bác sĩ tai mũi họng khi vệ sinh ống tai con sẽ có kĩ thuật quấn bông riêng tùy theo từng bệnh nhân. Chỉ các bác TMH mới làm được, sau khi đã soi tai cho con.
👋 CẨN THẬN KHI DÙNG SỮA TẮM, DẦU GỘI
- Tránh chảy vào tai, gây ngứa
👋 DÙNG DẤM LOÃNG ĐỂ TRỊ NGỨA TAI ĐƠN THUẦN
- Nếu lăn tăn, hãy đưa con đi khám trước
- Dấm loãng chỉ dùng để trị ngứa ống tai ngoài
- Phương pháp này đã được bác sĩ kiểm tra về bằng chứng y học, acid acetic trong dấm trắng (dấm táo) giúp phục hồi pH bình thường của ống tai, ức chế vi khuẩn - nấm tại chỗ.
Đã được nghiên cứu chính thống nói tới: https://journals.lww.com/thehearingjournal/toc/2010/03000
- Áp dụng khi: chỉ ngứa tai đơn thuần
- Không dùng khi: ngứa kèm theo đau (ngứa + đau tai = đi khám), con đang đặt ống thông (trong viêm tai) hoặc tai chảy mủ hoặc rách màng nhĩ do viêm tai giữa vỡ mủ.
- Pha dấm trắng (không kèm tỏi, ớt nhé) với nước ấm tỉ lệ 1:1, trộn đều, nhỏ 2 giọt mỗi bên tai 1 lần một ngày, trong 3 ngày liền.
- Nếu không chắc chắn về dấm đảm bảo vệ sinh, nồng độ thì có thể dùng các loai dung dịch vệ sinh tai chuyên dụng có bán tại hiệu dược, hoặc tư vấn từ bác sĩ.
😗 TÓM LẠI:
1. Ngứa tai khác đau tai
2. Giựt tai đơn thuần thì theo dõi tiếp
3. Giựt tai + đau tai = đi khám
4. Giựt tai + sốt, mệt, khóc = đi khám
5. Không dùng bông ngoáy tai cho bé dưới 10 tuổi
Nguồn Chăm con chuẩn Mỹ
BS. Đỗ Tiến Sơn

NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN VIÊM TAI GIỮA BẠN CẦN BIẾT

tháng 8 09, 2019
Viêm tai giữa là bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng gặp nhiều nhất ở trẻ em. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới viêm tai giữa. Biết được những nguyên nhân này, chúng ta có thể phòng tránh bệnh một cách hiệu quả. Vì thế, viêm tai giữa nguyên nhân và cách điều trị là chủ đề rất được quan tâm.

1.Viêm tai giữa là bệnh thường gặp ở trẻ em.

Có nghiên cứu cho rằng, khoảng 50-85% trẻ em dưới 3 tuổi trên thế giới đã từng mắc viêm tai giữa ít nhất 1 lần. Tức là cứ 10 trẻ dưới 3 tuổi, thì có từ 5-8 trẻ đã từng mắc viêm tai giữa ít nhất 1 lần. Có trẻ bị tái đi tái lại nhiều lần.

Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm trẻ từ 6 tháng tuổi đến 15 tháng tuổi.
Viêm tai giữa là nguyên nhân phổ biến nhất gây suy giảm khả năng nghe ở trẻ em. Có trường hợp viêm tai giữa gây điếc vĩnh viễn. Ngoài ra, các biến chứng của viêm tai giữa có thể dẫn tới tử vong như viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch.

2. Nguyên nhân dẫn tới viêm tai giữa

2.1. Vai trò của vòi nhĩ


Viêm tai giữa nguyên nhân đa dạng, nhưng phần lớn đều liên quan đến một bộ phận gọi là vòi nhĩ. Trước khi tìm hiểu nguyên nhân viêm tai giữa, cần tìm hiểu về vòi nhĩ.
  • Tai giữa được thông với vòm mũi họng bằng một “đường ống” gọi là vòi nhĩ (hay ống Eustachi). “Cổng” của đường ống này gọi là lỗ vòi nhĩ (Lỗ Eustachi) nằm gần Amidan.
  • Vòi nhĩ có tác dụng thông khí, làm cân bằng áp lực trong tai giữa với môi trường. Tuy nhiên, nó cũng là con đường dẫn vi khuẩn từ mũi họng lên tai giữa.
  • Ở người lớn, vòi nhĩ luôn xẹp. Vòi nhĩ chỉ mở khi ngáp hoặc nuốt.
  • Ở trẻ em, vòi nhĩ nằm ngang, khá rộng và thẳng. Lỗ vòi nhĩ luôn mở, vi khuẩn dễ xâm nhập từ mũi họng lên tai giữa. Vậy nên trẻ em dễ mắc viêm tai giữa hơn người lớn.

2.2. Nguyên nhân viêm nhiễm cấp tính ở mũi họng

Vi khuẩn từ vòm mũi họng theo vòi nhĩ đi lên tai giữa gây viêm vòi nhĩ và tai giữa. Vòi nhĩ bị viêm tắc lại, khiến dịch viêm trong tai giữa không thoát ra được, làm tình trạng viêm càng nghiêm trọng. Đây là nhóm nguyên nhân thường gặp nhất.

Một số bệnh trong nhóm này là:
  • Cúm.
  • Sởi.
  • Viêm mũi.
  • Viêm xoang.
  • Viêm VA.
  • Viêm amidan…
  • Hầu hết trẻ em bị viêm mũi xoang cấp, viêm VA cấp, viêm amidan cấp đều có kèm theo viêm tai giữa cấp tính.

    2.3. Nguyên nhân lỗ vòi và vòi nhĩ bị bít tắc

    Lỗ vòi và vòi nhĩ bị bít tắc dẫn tới áp lực trong tai giữa giảm so với môi trường. Sự mất thăng bằng áp lực khiến tai giữa chảy dịch, gây viêm. Các nguyên nhân trong nhóm này là:
    • Do khối u trong ung thư vòm mũi họng, ung thư amidan chèn ép vào lỗ vòi.
    • Do amidan quá phát, to ra bít vào lỗ vòi.
    • Do dị ứng làm niêm mạc vòi nhĩ bị phù nề, gây tắc vòi nhĩ.

    2.4. Nguyên nhân do chấn thương


    • Do vệ sinh tai thô bạo, không đúng cách bằng các vật sắc nhọn gây rách màng nhĩ. Dụng cụ vệ sinh không sạch sẽ cũng gây viêm tai.
    • Do chấn thương gây ra bởi sức ép bom đạn, tiếng nổ gây rách màng nhĩ.
    • 2.5. Nguyên nhân do thay đổi áp lực đột ngột

      • Phi công hoặc hành khách máy bay lao từ trên cao xuống thấp. Nhất là những người đang bị viêm mũi xoang, viêm họng khi đi máy bay dễ bị viêm tai giữa hơn.
      • Người thợ lặn, người làm việc trong buồng khí nén.

      2.6. Nguyên nhân gây viêm tai giữa mạn tính

      Viêm tai giữa mạn tính chủ yếu do viêm tai giữa cấp tính không được điều trị triệt để. Các triệu chứng của bệnh thoái lui khiến người bệnh lầm tưởng đã khỏi bệnh và ngưng điều trị. Viêm tai giữa mạn tính tiến triển âm thầm nhưng dai dẳng và gây ra các biến chứng nặng nề cho người bệnh.

      3. Ai dễ mắc bệnh viêm tai giữa

      Ngoài các nguyên nhân gây viêm tai giữa nêu trên, có một số yếu tố đã được nghiên cứu làm tăng khả năng mắc bệnh, gọi là các yếu tố nguy cơ. Theo đó, những người có các yếu tố nguy cơ này, thì khả năng mắc bệnh cao hơn những người khác. Những người dễ mắc viêm tai giữa là:
      • Trẻ em dưới 5 tuổi dễ mắc viêm tai giữa hơn so với các lứa tuổi khác.
      • Trẻ sinh non dưới 37 tuần tuổi thai.
      • Trẻ sinh nhẹ cân, cân nặng dưới 2,5kg.
      • Trẻ có anh chị em, người thân trong gia đình mắc các bệnh nhiễm trùng tai có khả năng mắc viêm tai giữa cao hơn.
      • Những người có điều kiện vệ sinh kém, nước sinh hoạt bị ô nhiễm.
      • Những trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá và những người lớn hút thuốc lá có khả năng mắc viêm tai giữa cao hơn.
      • Vậy là chúng ta đã làm rõ các nguyên nhân gây viêm tai giữa. Viêm tai giữa là bệnh thường gặp nhưng có thể gây suy giảm khả năng nghe và gây tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Biết được viêm tai giữa nguyên nhân và cách điều trị, chúng ta hoàn toàn có thể phòng tránh được viêm tai giữa và các biến chứng nguy hiểm của căn bệnh này.

Theo BS. Hồng Hạnh

ĐIẾC ĐỘT NGỘT - BỆNH NGUY HIỂM CẦN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ SỚM

tháng 7 15, 2019
Điếc đột ngột (ĐĐN), được định nghĩa là tình trạng mất hoặc giảm thính lực xảy ra nhanh chóng. Phần lớn chỉ xuất hiện ở một tai, do tổn thương của tai trong, có biểu hiện nghe kém tiếp nhận trên thính lực đồ đơn âm.





Điếc đột ngột là gì?

Nghe kém được chia làm 3 loại:
(1) Nghe  kém  dẫn truyền – do gián đoạn âm thanh từ tai ngoài đến cửa sổ bầu dục;
(2) Nghe kém tiếp nhận hay điếc do cảm thụ thần kinh – do tổn thương từ ốc tai đến vỏ não thính giác; 
(3) Nghe kém hỗn hợp – kết hợp hai loại trên.

Điếc đột ngột (ĐĐN), được định nghĩa là tình trạng mất hoặc giảm thính lực xảy ra nhanh chóng, phần lớn chỉ xuất hiện ở một tai, do tổn thương của tai trong, có biểu hiện nghe kém tiếp nhận trên thính lực đồ đơn âm. Đây được xem là một cấp cứu trong Tai – Mũi – Họng. Chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị có thể làm giảm hiệu quả và cơ hội phục hồi thính lực của bệnh nhân.

Điếc đột ngột có nguy hiểm không?

Hiện nay, số bệnh nhân đến khám vì ĐĐN đang ngày một tăng. Ước tính mỗi tháng có trên 90 trường hợp đến khám ở các trung tâm lớn. Bệnh có xu hướng xảy ra nhiều đối với người làm việc ở những nơi ồn ào, công việc căng thẳng. Ước lượng hàng năm gặp ĐĐN ở 1 người trong số 5.000 người. ĐĐN có thể gặp ở mọi lứa tuổi và thường gặp ở người lớn độ tuổi 40 và 50. Khoảng 32- 65% số bệnh nhân ĐĐN tự cải thiện thính lực một phần hoặc hoàn toàn trong vòng một đến hai tuần sau khởi phát.
Tuy nhiên, bệnh có thể không thuyên giảm kể cả khi điều trị tích cực. ĐĐN khiến bệnh nhân lo lắng, để lại di chứng ảnh hưởng đến sinh  hoạt  và  công việc về sau.

Điếc đột ngột – không dễ dàng xác định nguyên nhân

Nguyên nhân của điếc đột ngột phần lớn khó có thể xác định.

Một số giả thuyết về bệnh nguyên của điếc đột ngột đã được đưa ra như sau:

– Giả thuyết nhiễm vi-rút: 30-40% các trường hợp ghi nhận có nhiễm trùng đường hô hấp trên trong vòng 1 tháng trước khi triệu chứng ĐĐN xuất hiện.
– Giả thuyết mạch máu. Các tổn thương làm giảm lưu lượng máu đến tai trong như vi huyết khối, vi thuyên tắc mạch, co thắt mạch máu, giảm huyết áp, xuất huyết nội mê nhĩ.
– Giả thuyết miễn dịch. Kháng thể kết hợp các kháng nguyên nội sinh ở tai trong.
– Giả thuyết mất cân bằng áp lực: như trong trường hợp sũng nước mê nhĩ.
Chỉ khoảng 10 – 15% các trường hợp ĐĐN có thể xác định được nguyên nhân.

Các nguyên nhân thường gặp nhất bao gồm:

– Các bệnh truyền nhiễm: viêm màng não, viêm mê nhĩ, viêm ốc tai có thể do các tác nhân nấm, vi trùng, vi-rút (sởi, quai bị, rubella, vi-rút gây bệnh mụn rộp, vi-rút gây bệnh thủy đậu…)
– Các bệnh lý mạch máu: tắc hoặc co thắt mạch máu tai trong, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì, rối loạn mỡ – máu…
– Các bệnh lý của tai trong như bệnh Ménière.
– Sử dụng các thuốc độc cho tai: kháng sinh nhóm aminoglycosides, quinine,  aspirin,  cisplatin.
– Các bệnh lý tân sinh u: u góc cầu-tiểu não, u ống tai trong, u di căn từ nơi khác đến xương thái dương hay màng não.
– Các bệnh lý tự miễn: u hạt Wegener, viêm đa khớp, hội chứng Cogan, bệnh Lupus ban đỏ hệ thống.
– Các chấn thương: chấn thương đầu, chấn thương tai do áp lực (lặn sâu, đi máy bay, leo vùng núi cao…), chấn thương tai do âm thanh, rò ngoại dịch.
– Các bệnh lý chuyển hóa: rối loạn chuyển hóa sắt, suy thận…

Làm sao để xác định được điếc đột ngột?

Bệnh cảnh điển hình của một trường hợp ĐĐN là buổi sáng thức dậy, bệnh nhân có cảm giác nghe kém 1 bên tai, thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân nghe điện thoại. Các triệu chứng khác có thể xuất hiện kèm theo là: đầy nặng tai, ù tai, chóng mặt. Triệu chứng có thể xuất hiện và tiến triển nhanh trong vài phút đến vài giờ hoặc tăng dần trong vài ba  ngày.
Để chẩn đoán ĐĐN,  tiến  hành đo thính lực đồ đơn âm. Khám nghiệm này giúp phân biệt giữa một trường hợp giảm thính lực dẫn truyền với một trường hợp giảm thính lực tiếp nhận.

Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐĐN:

– Giảm thính lực tiếp nhận trên 30 decibels
– Giảm thính lực ở 3 tần số âm liên tiếp. (hình 2)
– Giảm thính lực xảy ra trong vòng 3 ngày.

Các phương pháp xác định nguyên nhân điếc đột ngột 

Khi đã xác định được ĐĐN, tùy theo gợi ý trên lâm sàng, người ta sẽ cho làm thêm các xét nghiệm khác để tìm nguyên nhân gây bệnh: thử máu, hình ảnh học (thường là nội soi tai, chụp cộng hưởng từ) và các nghiệm pháp đánh giá chức năng tiền đình. Cần nhắc lại rằng mặc dù thăm khám bệnh và thực hiện các xét nghiệm kỹ lưỡng, chỉ có thể xác định được nguyên nhân gây ĐĐN cho khoảng 10-15% các trường hợp.
Trong số các nguyên nhân ĐĐN, khoảng 0,8 – 4% các bệnh nhân có u ống tai trong hoặc u góc cầu – tiểu não. Ngay cả khi bệnh nhân đã hồi phục thính lực hoàn toàn cũng không thể hoàn toàn loại trừ các nguyên nhân này. Do đó, chụp cộng hưởng từ (MRI) có tiêm gadolinium là xét nghiệm phù hợp nhất để loại trừ các bệnh lý sau ốc tai. Nếu không thể chụp cộng hưởng từ, bệnh nhân nên được đo điện thính giác thân não hoặc đo lại thính lực đồ trong quá trình điều trị, các bất thường kéo dài trên 2 xét nghiệm này có thể gợi ý cho các bệnh lý sau ốc tai.
Chụp CT xương thái dương không được khuyến cáo thực hiện thường quy ở các bệnh nhân ĐĐN, ngoại trừ các trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi. Nhóm bệnh nhân này có tỷ lệ bệnh lý u sau ốc tai thấp nhưng có tỷ lệ bất thường về cấu trúc giải phẫu cao. Các bất thường  giải  phẫu có thể phát hiện bằng chụp CT ở nhóm bệnh  nhân  này  bao gồm: thiểu sản ốc tai, hội chứng Mondini, giãn rộng cống  tiền đình.

Người ta làm gì để điều trị điếc đột ngột?

Như đã đề cập ở phần nguyên nhân gây ĐĐN, có 85-90% các trường hợp không xác định được nguyên nhân cụ thể. Do đó, có nhiều thuốc điều trị được đề ra với mục đích điều trị bao vây dựa trên các giả  thuyết  gây bệnh. Các thuốc này  có  thể được phân nhóm theo cơ chế tác dụng như sau: thuốc kháng viêm (corticosteroids), thuốc giãn mạch (histamin, papaverine), thuốc kháng  vi-rút (acyclovir, valacyclovir), thuốc tiêu sợi huyết (heparin, warfarin), thuốc hoạt hóa mạch máu (piracetam), chất chống oxy hóa (vitamin E, ginko biloba). Nhìn chung, các nghiên cứu về hiệu quả của các cách điều trị trong ĐĐN còn nhiều tranh cãi.

Hội Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Đầu Cổ của Hoa Kỳ đã đưa ra các khuyến cáo trong tiếp cận điều trị bệnh  nhân  ĐĐN  không rõ nguyên nhân như sau:

– Giải thích cho bệnh nhân về nguyên nhân của ĐĐN và hiệu quả điều trị.
– Corticosteroids là một lựa chọn hiệu  quả  cho  khởi   đầu   điều trị. Trước đây, corticosteroids thường được sử dụng bằng đường toàn thân (dạng chích hoặc uống). Trong những năm gần đây, chích corticoids trực tiếp xuyên màng nhĩ vào tai giữa (qua đó thuốc có thể đi vào tai trong) được nhiều nghiên cứu ghi nhận tính hiệu quả.
Để tiết kiệm chi phí điều trị, chích corticoids xuyên nhĩ được khuyến cáo chỉ nên thực  hiện khi thính lực không phục hồi sau sử dụng corticosteroids đường toàn thân.
– Oxy cao áp liệu pháp có thể được sử dụng nhằm hỗ trợ quá trình điều trị.
– Đánh giá lại thính lực đồ của bệnh nhân trong vòng 6 tháng sau chẩn đoán.
– Tư vấn bệnh nhân sử dụng thiết bị trợ thính giúp bệnh nhân hòa nhập lại cuộc sống nếu thính lực không phục hồi sau quá trình điều trị tích cực.

Đối với nhóm bệnh nhân có thể xác định  được  nguyên  nhân gây bệnh

Tùy từng trường hợp, bác sĩ sẽ chỉ định phương thức điều trị phù hợp: điều trị kháng sinh hoặc kháng vi-rút trong các trường hợp bệnh nhiễm, phẫu thuật lấp lỗ rò nếu bệnh nhân có rò  ngoại  dịch,…
Các nghiên cứu đều ghi nhận việc khởi động điều trị trong 1 – 2 tuần đầu sau khi xuất hiện triệu chứng sẽ đem lại hiệu quả phục hồi cao, và cơ hội cải thiện sức nghe rất thấp nếu như bắt đầu điều trị 4 tuần sau thời điểm khởi phát. Việc điều trị sớm trong những ngày đầu có thể cải thiện thính lực trong 60-80% các trường hợp.
Các yếu tố tiên lượng khả năng phục hồi kém bao gồm: chóng mặt kèm theo, giảm thính lực nặng, bệnh nhân lớn tuổi.

 Điếc đột ngột  phòng bệnh hơn chữa bệnh

Một số lời khuyên sau có thể giúp bạn phòng và giảm thiểu các tác hại do ĐĐN gây ra:
– Tránh những nơi có âm thanh lớn hoặc đeo dụng cụ hỗ trợ chống tiếng ồn.
– Có chế độ làm việc và nghỉ ngơi phù hợp.
– Sử dụng thuốc đúng chỉ định, tránh tự ý sử dụng kháng sinh không có y lệnh bác sĩ.
– Tầm soát và điều trị các bệnh lý tim mạch, rối loạn mỡ-máu và đái tháo đường.
– Khi các triệu chứng của điếc đột ngột xuất hiện, cần đến khám bác sĩ ngay nhằm tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.



ThS BS Trần Ngọc Tường Linh
Trích Tạp chí “Sống khỏe” – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh